(Điều dưỡng) - Ngày nay, trên thế giới vấn đề được quan tâm sau nhiễm HIV là nhiễm virus viêm gan B. Việc phát hiện sớm nhiễm virus viêm gan B là vô cùng cần thiết. Trong năm 2007 chúng tôi đã nghiên cứu trong CBCC trường Đại học Điều dưỡng Nam định. Chúng tôi đã tiến hành xét nghiệm phát hiện virus viêm gan B (HBV) trong máu và điều tra qua phiếu thăm dò trên 140 CBCC của trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ người tham gia nam 37% nữ 63%, nhiều nhất ở tuổi 31 - 45 (48,6%). Tỷ lệ nhiễm HBV là 2,9%, nam 2%, nữ 3,4%. 100% số người nhiễm là chưa tiêm phòng. Tỷ lệ nhiễm HBV khác nhau ở các lứa tuổi, thấp nhất ở lứa tuổi 18 - 30, cao nhất ở tuổi 46 - 60. Tỷ lệ nhiễm không liên quan đến giới tính, công việc và tiêm truyền.
(Dieuduong)- Tình hình rò luân nhĩ bẩm sinh của học sinh, sinh viên (HSSV) trường đại học Điều dưỡng Nam Định (ĐHĐDNĐ) được phát hiện qua khám sức khoẻ định kỳ cho 1903 HSSV từ năm 2003-2006, có 88 HSSV bị rò Helix chiếm tỷ lệ là 4,62%. Trong số đó chỉ có 36,4% HSSV biết mình mắc bệnh. Số lượng rò Helix ở tai phải cao nhất (46,6%), hai tai thấp nhất (19,3%). Vị trí kinh điển là chính (94,3,2%). Tỷ lệ biến chứng 25,0 %, có 2,3% lỗ rò để lại biến chứng sẹo xấu ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Bệnh có yếu tố gia đình 21,6%.
(Dieuduong)- Thực hiện đánh giá rèn luyện theo quy chế 42 của Bộ giáo dục và đào tạo là việc làm rất quan trọng trong giáo dục HSSV trong các trường đào tạo. Qua phân tích kết quả điểm rèn luyện của 1293 HSSV chính quy thuộc 19 lớp của học kỳ I năm học 2004-2005 cho thấy: Số HSSV Nữ chiếm 71,5%, Nam chiếm 28,5%; HSSV Nội trú 69,2%, ngoại trú 30,8% Tỷ lệ Đạt xuất sắc 13%, tốt 70%, khá 16%, trung bình khá 1%; nhìn chung HSSV chấp hành tốt nội quy quy chế và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội, thể dục, thể thao.
Cần tiếp tục xây dựng thang điểm theo từng học kỳ, từng đối tượng HSSV và nâng cao vai trò của giáo viên chủ nhiệm, Ban cán sự các lớp trong việc theo dõi và đánh giá điểm rèn luyện thật chính xác và khách quan.
(Dieuduong)- Hình thái thể lực (HTTL) là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá tình trạng sức khoẻ của con người. Qua nghiên cứu HTTL của 301 sinh viên (SV) (70 nam, 231 nữ) ở thành thị và nông thôn khám tuyển sinh vào trường Đại học Điều dưỡng Nam Định năm học 2005-2006 cho thấy: Các kích thước và chỉ số HTTL của nam SV tốt hơn nữ SV, HTTL của SV thành thị có xu hướng tốt hơn SV nông thôn. HTTL có chiều hướng gia tăng theo thời gian, sau 30 năm nam SV có chiều cao tăng 4,2cm, cân nặng tăng thêm 7kg. Ở nữ SV có chiều cao tăng 5cm, cân nặng tăng thêm 3kg. So với SV năm 1993 thì nam SV có cân nặng tăng hơn 5kg và nữ là » 2 kg. Chiều cao đứng của nữ SV so với các nghiên cứu cách đây 10 năm có chiều cao hầu như không tăng. So với tiêu chuẩn phân loại thể lực của WHO xây dựng trên người châu Á - Thái bình dương thì SV trường Đại học Điều dưỡng Nam Định có cân nặng trung bình.
(Dieuduong)- Hình thái thể lực (HTTL) là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá tình trạng sức khoẻ của con người. Vấn đề phát triển HTTL ở lứa tuổi tuyển sinh vào các trường Đại học và Cao đẳng là một trong những vấn đề được quan tâm trong chiến lược phát triển nguồn lực con người của mỗi quốc gia.
(Dieuduong)- Vị trí, vai trò của người Điều dưỡng, Hộ sinh từ lâu đã được khẳng định trong hệ thống nhân lực Y tế nước ta. Điều dưỡng đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong ngành Y tế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Điều dưỡng ngày càng có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển về số lượng và từng bước nâng cao chất lượng cho ngành Điều dưỡng. Ở các nước tiên tiến: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc, Thái Lan, Malaixia, Hàn Quốc… việc đào tạo Điều dưỡng đã đi vào nề nếp và có hệ thống, ổn định về qui mô đào tạo, ổn định về đội ngũ cán bộ giảng dạy đảm bảo đạt chuẩn. Điều dưỡng viên của các nước phát triển có trình độ chủ yếu là đại học và trên đại học, có tỷ lệ chung ĐD/BS đạt chuẩn theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO) là 1/ 4 trở lên.
(Dieuduong)- Xã hội tồn tại và phát triển được là do công sức đóng góp của cả phụ nữ và nam giới. Trong cuộc sống hàng ngày, phụ nữ và nam giới luôn sinh sống và làm việc trong mối quan hệ mật thiết song giữa họ lại có những khác biệt rõ rệt về thể lực, chức năng sinh sản, tính cách, phạm vi giao tiếp, thu nhập và địa vị xã hội . Người ta cho rằng, mọi sự khác biệt đó giữa nam và nữ là tự nhiên, bẩm sinh.
Designed by RN.BSN.Vu Van Dau // Email: info@dieuduong.com.vn // Copyright 2010 Vietnurse Group
Lưu ý: Những thông tin trên trang tin liên quan đến bệnh , tật để bạn đọc tham khảo giúp ích cho dự phòng và hạn chế những tác động bất lợi cho sức khỏe. Chữa trị và chăm sóc căn bệnh trên một người bệnh cụ thể nhất thiết phải theo chỉ dẫn của Thầy thuốc và Điều dưỡng chuyên khoa